Đang tải...
  1. THÔNG BÁO CỦA SHAREYKHOA (NÊN ĐỌC)

    Trang đặt sách của ShareYKhoa : https://www.sendo.vn/shop/nha-sach-y-hoc-truc-tuyen/
    Fb hỗ trợ các bạn: facebook.com/shareykhoa

    Zalo hỗ trợ các bạn nhanh nhất: 092.9292.331

    Chào bạn Khách, hãy đọc tất cả các thông báo và các hướng dẫn của diễn đàn trước khi tham gia nhé. Để sử dụng diễn đàn một cách hiệu quả hơn
    Bạn hãy tìm tất cả các môn có trong diễn đàn nhé. (Tránh trường hợp bạn học năm 1, nhưng trong diễn đàn năm 1 sẽ không có môn này. Bạn hãy tìm kĩ môn đó có thể nằm ở năm 2 hoặc 3 gì đó :). Vì mỗi trường sẽ sắp xếp các môn theo ăm khác nhau :D)
    Hiện tại diễn đàn đang xây dựng hệ thống thi trực tuyến (chạy trạm, trắc nghiệm,..). Hi vọng các bạn cùng giúp đỡ

LÝ THUYẾT MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ TRONG PHỤ KHOA

Thảo luận trong 'PHỤ SẢN' bắt đầu bởi ngaithon, 8/3/19.

Chia sẻ trang này

Lượt xem : 10

  1. ngaithon

    ngaithon Level 5
    Thành viên BQT Administrative
    • 133/153

    Blog Posts:
    3
    Tham gia ngày:
    16/2/17
    Bài viết:
    360
    Đã được thích:
    1,585

    Inventory:

    MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP THĂM DÒ TRONG PHỤ KHOA

    MỤC TIÊU

    1. Giải thích được ý nghĩa của các dạng biểu đồ thân nhiệt.

    2. Kể được 3 phương pháp thăm dò chất nhầy cổ tử cung.

    3. Biết được tần số thực hiện và cách thực hiện phết mỏng cổ tử cung.

    4. Kể được các hình ảnh bất thường của soi cổ tử cung.

    5. Kể được các chỉ định và chống chỉ định của chụp buồng tử cung vòi trứng cản quang.

    6. Kể được các chỉ định, chống chỉ định và biến chứng của soi ổ bụng.


    I. BIỂU ĐỒ THÂN NHIỆT

    Là một phương pháp thăm dò chức năng hoàng thể rất có giá trị và ít tốn kém, dựa trên nguyên lý: progesteron là hormon của hoàng thể có tác dụng lên trung tâm điều hòa thân nhiệt và làm tăng thân nhiệt.

    Việc ghi thân nhiệt hàng ngày được thực hiện trong nhiều chu kỳ liên tiếp trên nhiều biểu đồ khác nhau, mỗi biểu đồ ghi nhận từ ngày thứ nhất của chu kỳ này đến ngày thứ nhất của chu kỳ kế tiếp.

    Thân nhiệt của người phụ nữ được lấy vào lúc sáng sớm mới ngủ dậy và chưa ra khỏi giường, vào 1 giờ nhất định, nên lấy nhiệt độ ở trực tràng.

    Ở một biểu đồ thân nhiệt bình thường có sự gia tăng của thân nhiệt cơ bản xảy ra vào ngày thứ 14 của chu kỳ 28 ngày, tăng ít nhất là 0,50Cvà duy trì 12 – 14 ngày, cho thấy có sự hiện hữu của progesteron là hormon của hoàng thể, kết quả của sự rụng trứng.

    Hiện nay, biểu đồ thân nhiệt được sử dụng trong (1) chẩn đoán bất thường của sự phóng noãn (2) chẩn đoán bất thường về chức năng hoàng thể.

    Thân nhiệt cơ bản không gia tăng trong nửa sau chu kỳ có thể biểu hiện một tình trạng không phóng noãn.

    Nếu hiện tượng gia tăng thân nhiệt chỉ kéo dài < 14 ngày có khả năng đó là một hoàng thể suy kém.

    Sự gia tăng thân nhiệt kéo dài > 14 ngày thường biểu hiện một thai kỳ.

    Một biểu đồ thân nhiệt bình thường xác nhận sự bình thường trong hoạt động phóng noãn và thành lập hoàng thể, trái lại một biểu đồ không bình thườngkhông cho phép khẳng định một bất thường về hoạt động phóng noãn cũng như thành lập hoàng thể.



    II. CÁC PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT ÂM ĐẠO

    1. Khảo sát chất dịch âm đạo

    Bình thường dịch âm đạo có màu trắng, hơi sệt như bột. Soi dưới kính hiển vi có nhiều tế bào âm đạo bong tróc, một số bạch cầu đa nhân, trực khuẩn Doderlein, tạp khuẩn khác.

    Trực khuẩn Doderlein sử dụng glycogen từ các tế bào âm đạo bong tróc chuyển hóa thành acid lactic làm cho âm đạo có pH acid. Độ acid âm đạo tùy thuộc vào nồng độ Estrogen trong cơ thể, bình thường pH âm đạo khoảng 4,2 – 5. Nếu pH âm đạo > 5 là có bất thường.

    Khào sát chất dịch âm đạo bao gồm khảo sát về lý tính ( màu sắc, mùi, độ pH…) và vi sinh học ( ký sinh trùng, vi trùng, xác bạch cầu…).

    2. Phiến đồ âm đạo nội tiết

    Âm đạo là cơ quan đích của các hormon steroid, hình ảnh phết tế bào âm đạo phản ánh phần nào hoạt động của nội tiết của buồng trứng. Estrogen gây sự trưởng thành của biểu mô Malpighi biểu hiện bằng sự gia tăng tỉ lệ tế bào ái toan và tăng chỉ số nhân đông. Trái lại, progesteron đình chỉ sự trưởng thành này và làm tróc vảy các tế bào trung chuyển của biểu mô Malpighi.

    Phiến đồ âm đạo nội tiết được thực hiện nhiều lần trong chu kỳ, mẫu được lấy ở túi cùng bên và sau, bằng que spatule d’Ayre.

    Kết quả:

    + Ngày thứ 5 của chu kỳ: có nhiều tế bào bề mặt và không có tế bào đứng thành mảng.

    + Ngày thứ 14: trên lam chỉ có tế bào bề mặt thể hiện sự trưởng thành của niêm mạc âm đạo dưới tác dụng của Estrogen.

    + Ngày thứ 22: trên lam xuất hiện hiều tế bào trung chuyển, gấp cạnh và tập trung thành từng đám.

    Hiện nay phương pháp này không còn áp dụng trên lâm sàng.

    3. Soi âm đạo

    Khảo sát cổ tử cung và âm đạo bằng dụng cụ quang học, thường dùng cho trẻ em. Ở người lớn được chỉ định khi không thể khảo sát âm đạo bằng mỏ vịt do những tổn thương làm hẹp âm đạo.



    III. CÁC PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT CỔ TỬ CUNG

    1. Thăm dò chất nhầy cổ tử cung

    - Đo pH bằng giấy thử pH: bình thường chất nhầy cổ tử cung trong có pH # 8, chất nhầy quanh cổ tử cung có pH # 6 – 7 do có tiếp xúc với chất dịch âm đạo. pH acid của chất nhầy có thể ảnh hưởng đến sự xâm nhập của tinh trùng vào kênh cổ tử cung.

    - Dấu hiệu con ngươi: thấy vào thời điểm estrogen lên cao nhất của chu kỳ. Khi đó sẽ thấy lổ tử cung hé mở, chất nhầy cổ tử cung nhiều, trong, loãng, dai và có thể kéo sợi dài đến 16 cm. Những ngày sau rụng trứng lỗ tử cung đóng dần, chất nhầy ít đi, trở nên đục và đặc hơn.

    - Hiện tượng kết tinh hình lá dương xỉ: vào giữa chu kỳ khi chất nhầy cổ tử cung nhiều và trong suốt, lấy phết lên lam kính và để khô, quan sát dưới kính hiển vi sẽ thấy hình ảnh các tinh thể muối NaCl kết tinh thành hình lá dương xỉ do sự hiện diện của estrogen. Hình ảnh xuất hiện vào ngày 8 – 9, rõ và đẹp nhất vào ngày phóng noãn.

    - Thử nghiệm Huhner: khảo sát sự xâm nhập của tinh trùng vào bên trong chất nhầy cổ tử cung. Thường được tiến hành vào ngày thứ 12 của chu kỳ, giao hợp trước khi lấy chất nhầy để khảo sát. Nhằm tìm kiếm sự hiện diện của tinh trùng còn hoạt động trong chất nhầy cổ tử cung. Thử nghiệm âm tính khi không có sự xâm nhập của tinh trùng vào chất nhầy cổ tử cung hay có sự hiện diện của các tinh trùng bất hoạt trong chất nhầy.

    2. Phết mỏng cổ tử cung truy tầm ung thư

    - Kỹ thuật làm phết:

    Trước khi làm phết không được thụt rửa âm đạo, không đặt thuốc, không giao hợp 24 – 48 giờ trước khi lấy mẫu. Không khám âm đạo trước khi lấy mẫu, mỏ vịt không được bôi dầu và phải đặt nhẹ nhàng không gây chảy máu.

    Phết phải lấy được vùng chuyển tiếp lát trụ: mục tiêu là phết phải có chứa vừa tế bào cổ ngoài, tế bào chuyển sản của vùng chuyển tiếp lát trụ và các tế bào trụ.

    Phết cổ ngoài lấy bằng đầu ngắn của que spatule d’Ayre, phết cổ trong lấy bằng đầu dài của que hoặc bằng bàn chỉa tế bào.

    2 mặt của que được áp thẳng lên lam thủy tinh sạch, cố định ngay bằng dung dịch cồn 900 hoặc phun chất cố định ( để lam cách xa 20 – 30cm). chuyển lam đến phòng tế bào với đầy đủ chi tiết đi kèm ( tên, tuổi, phương pháp ngừa thai, kinh chót, PARA, …).

    - Đọc kết quả: Mô tả theo hệ thống danh pháp Bethesda.

    - Tần suất thực hiện phết tế bào:

    Khoảng cách cần thiết giữa 2 lần là 3 - 4 tháng. Nên làm phết lần đầu tiên ngay khi bắt đầu sinh hoạt tình dục.

    Lặp lại trong 2 năm kế tiếp, nếu kết quả âm tính theo dõi phết tế bào 3 năm/ lần đến 35 tuổi sau đó 5 năm/ lần cho đến 60 – 65 tuổi.

    3. Soi cổ tử cung

    - Chỉ định:

    + Phết mỏng cổ tử cung bất thường

    + Tổn thương tại cổ tử cung.

    - Mục đích:

    + Chẩn đoán các tổn thương lành tính.

    + Theo dõi định kỳ các tổn thương tại cổ tử cung.

    + Tìm và chỉ định vùng tổn thương nghi ngờ để sinh thiết, tránh một số trường hợp khoét chóp không cần thiết.

    Tuy nhiên kết quả soi cổ tử cung cũng bị hạn chế khi không nhìn thấy được ranh giới lát trụ hay tổn thương lan rộng vào cổ trong, không thể quan sát toàn bộ tổn thương và không thể cho kết luận về thương tổn khi soi.

    - Kỹ thuật: 3 giai đoạn

    + Không chuẩn bị: dùng kính lọc màu xanh để quan sát mạch máu ( màu đen trên nền nhạt).

    + Bôi acid acetic: làm mất nước trong tế bào, làm trắng vùng tế bào có tỉ lệ nhâ/ tế bào chất gia tăng, thường là vùng chuyển sản hay dị sản.

    + Bôi lugol 3%: tế bào giàu glycogen sẽ bắt màu nâu dưới tác dụng của lugol, các vùng có tổn thương sẽ không bắt màu lugol.

    - Các hình ảnh soi:

    Bình thường: biểu mô lát hồng, biểu mô trụ màu đỏ, bề mặt có các mô và rãnh sâu, có dạng chùm nho dưới acid acetic.

    Vùng chuyển sản: nằm giữa biểu mô lát nguyên thủy và biểu mô trụ, có đảo tuyến, lỗ tuyến và các nang Naboth.

    Bất thường:

    + Lộ tuyến: vùng có màu đỏ, ranh giới rõ ràng, không có hình ảnh mạch máu không điển hình.

    + Vết sừng hóa: vùng gồ màu trắng, tách biệt với các vùng hồng hay đỏ.

    + Chấm đáy: các chấm đỏ trên nền trắng.

    + Lát đá: các ô trắng có ranh giới là những đường màu đỏ.

    + Mạch máu không điển hình: hình dấu phẩy, xoắn ốc.

    4. Sinh thiết cổ tử cung: Khi cổ tử cung có một tổn thương nghi ngờ, được làm dưới sự hướng dẫn của soi cổ tử cung. Mẫu thử nên lấy ở ranh giới của mô lành và mô bệnh, nếu cần phải lấy ở nhiều vị trí khác nhau.


    IV. CÁC PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT BUỒNG TỬ CUNG

    1. Sinh thiết nội mạc tử cung để khảo sát bệnh học

    - Chỉ định: Nghi ngờ tổn thương nội mạc tử cung, một số trường hợp rong kinh rong huyết.

    - Mục đích: Cầm máu và khảo sát bệnh học nên bệnh phẩm cần được lấy trên toàn bộ bề mặt nội mạc tử cung.

    - Không được thực hiện khi có viêm nhiễm trong lòng tử cung hay khi có thai.

    - Một số trường hợp như rong huyết quanh mãn kinh cần nạo sinh thiết từng phần bệnh phẩm được lấy riêng rẽ từ kênh tử cung và từ lòng tử cung.

    2. Sinh thiết nội mạc tử cung để khảo sát nội tiết

    - Hình ảnh mô học của nội mạc tử cung phản ảnh hoạt động nội tiết của buồng trứng.

    - Chỉ định: Khi cần khảo sát sự trưởng thành của noãn và chức năng hoàng thể.

    - Thực hiện vào ngày 22 của chu kỳ kinh 28 ngày. Mẫu sinh thiết được lấy ở mặt trước và mặt sau của tử cung.

    3. Soi buồng tử cung

    - Quan sát trực tiếp buồng tử cung nhờ một kính soi gắn với nguồn sáng lạnh.

    - Cần tôn trọng một số nguyên tắc:

    + Phụ nữ ở lứa tuổi hoạt động sinh dục chỉ thực hiện vào ngày 6 -12 chu kỳ kinh.

    + Phụ nữ đã mãn kinh: nên cho Estrogen liều thấp ( Ethinyl Estradiol 50µg) trong 7 ngày trước khi thực hiện để làm mở cổ tử cung.

    - Có thể dùng để chẩn đoán hay phẫu thuật.

    · Soi buồng tử cung chẩn đoán

    - Chỉ định: Xác định chẩn đoán trong những trường hợp rong kinh, rong huyết, tìm kiếm tổn thương trong buồng tử cung, kiểm tra hình ảnh trong buồng tử cung được khám phá qua HSG, vô sinh, sinh thiết buồng tử cung, tìm dụng cụ tử cung mất dây, dính buồng tử cung.

    - Chống chỉ định:

    + Nhiễm trùng tử cung hay phần phụ đang tiến triển.

    + Có thai hay nghi ngờ có thai.

    + Xuất huyết âm đạo nhiều.

    - Kỹ thuật:

    + Sát trùng cổ tử cung, dùng Pozzi kẹp cổ tử cung.

    + Kính soi đưa qua cổ tử cung đi vào từ từ và nhẹ nhàng, không được đo buồng tử cung trước vì có thể làm chảy máu.

    + Bơm khí CO2 làm nong dần cổ tử cung.

    + Khi đã vượt qua cổ trong bắt đầu quan sát: các mặt, các bờ, lỗ tai vòi. Có thể lấy mẫu xét nghiệm tùy theo hình ảnh quan sát được.

    - Các hình ảnh bình thường: Trong tuổi hoạt động sinh dục niêm mạc tử cung màu hồng, mỏng và đều đặn trong giai đoạn đầu của chu kỳ kinh. Sau khi rụng trứng niêm mạc dầy lên và không đều. Giai đoạn mãn kinh nội mạc tử cung teo đi. Ở vùng đáy tử cung có thể thấy rõ 2 lỗ tai vòi.

    · Soi buồng tử cung phẫu thuật

    - Chỉ định:

    + U xơ dưới niêm mạc hay polype buồng tử cung có thể cắt bỏ hay bào nhỏ bằng quai điện.

    + Tăng sinh nội mạc tử cung lành tính có thể được xử trí bằng cắt nội mạc tử cung.

    + Các bất thường về hình dạng tử cung như các tổn thương mắc phải ( dính buồng tử cung) hay dị dạng bẩm sinh như vách ngăn tử cung gây vô sinh, sẩy thai liên tiếp, sẩy thai muộn hoặc sanh non.

    - Kỹ thuật:

    + Dụng cụ gồm 2 ống lồng vào nhau đảm bảo sự bơm rửa chất chất dịch lỏng trong buồng tử cung, một tay cầm gắn với một ống kính và một quai điện có thể để cắt và đốt.

    + Truyền liên tục dung dịch glycin 1,5% để làm căng buồng tử cung.

    - Biến chứng

    + Thủng tử cung.

    + Biến chứng về chuyển hóa: sự xâm nhập ồ ạt của chất Glycin vào mạch máu tạo ra một số chất chuyển hóa gây độc cho hệ thần kinh trung ương

    + Hiện tượng loãng máu gây ra các triệu chứng: tăng huyết áp, trụy mạch, tăng áp lực tĩnh mạch trung ương, phù phổi, dấu hiệu thần kinh: nhức đầu, ói mửa, kích thích, rối loạn thị giác, buồn ngủ, co giật, hôn mê.

    + Chảy máu và nhiễm trùng.

    + Thuyên tắc khí: khó thở, tím tái, rối loạn nhịp tim, trụy tim mạch, có thể tử vong.

    4. Chụp tử cung vòi trứng có cản quang

    - Chỉ định

    + Chẩn đoán vô sinh; khảo sát hình dạng tử cung, dính buồng tử cung, u xơ dưới niêm mạc, tắc nghẽn vòi trứng( ứ nước, lao…)

    + Nghi ngờ có tổn thương trong lòng tử cung: polype buồng tử cung, u xơ tử cung dưới niêm mạc, ung thư nội mạc tử cung.

    - Chống chỉ định

    + Có thai, nghi ngờ có thai.

    + Nhiễm trùng toàn thân.

    + Nhiễm trùng cơ quan sinh dục cấp.

    + Xuất huyết âm đạo nhiều.

    + Dị ứng Iode.

    - Kỹ thuật

    + Chụp vào ngày thứ 8 -12 của chu kỳ.

    + Thuốc cản quang được sử dụng là thuốc tan trong nước.

    + Dụng cụ: chụp cổ tử cung hay Bommelear hay canule Riazzi – Palmer.

    + Chụp 6 phim:

    Ảnh không chuẩn bị: thấy sỏi tĩnh mạch, hạch vôi hóa, bướu vôi hóa, răng.

    Ảnh 1: bơm 0,5ml, buồng tử cung nhuộm màu lợt, thấy bất thường ở thân tử cung.

    Ảnh 2: bơm chậm 2 -3ml, thấy hình thân, eo tử cung.

    Ảnh 3: hình nghiêng quan sát tử thế tử cung, eo tử cung, hình dáng vòi trứng.

    Ảnh 4: bơm thêm 1- 2ml, thấy hình dáng tử cung, tắc nghẽn vòi trứng nếu có.

    Ảnh 5 (cotte): 15 - 20 phút sau khi cho bệnh nhân đi lại, ho để cho thuốc khuếch tán tốt trong ổ bụng.



    V. SOI Ổ BỤNG

    1. Soi ổ bụng chẩn đoán

    Chỉ định: Chẩn đoán thai ngoài tử cung, các bệnh lý viêm nhiễm vùng chậu, các khối u vùng chậu, khảo sát các trường hợp vô sinh.

    Kỹ thuật:

    - Gây mê toàn thân.

    - Bệnh nhân nằm tư thế Trendelenburg, thông tiểu.

    - Đặt thước đo vào buồng tử cung để có thể di động tử cung.

    - Bơm CO2 vào ổ bụng .

    - Đặt các trocart và đưa ống soi vào quan sát.

    - Thám sát cơ quan sinh dục, các dây chằng tử cung và các cơ quan khác có trong tiểu khung. Kiểm tra các cơ quan khác trong ổ bụng: gan, túi mật,...

    2. Phẫu thuật nội soi ổ bụng

    Dụng cụ:

    - Camera để thu và phát hình.

    - Các trocart có đường kính khác nhau ( 5 – 12 mm).

    - Ống kính thường nhất là 10mm.

    - Máy bơm CO2.

    - Kẹp kéo, dụng cụ cắt đốt, bơm rửa.

    Kỹ thuật:

    - Bơm CO2 vào ổ bụng.

    - Đặt các trocart.

    - Quan sát toàn bộ ổ bụng và vùng chậu, đánh giá khả năng thực hiện phẫu thuật.

    - Chú ý cầm máu.

    - Kết thúc phẫu thuật phải bơm rửa ổ bụng kỹ.

    Các loại phẫu thuật:

    - Buồng trứng:

    + Bóc tách u nang chừa mô lành.

    + Cắt u nang.

    - Thai ngoài tử cung:

    + Cắt vòi trứng

    + Bảo tồn vòi trứng: mở vòi trứng, chọc hút khối thai rồi đốt cầm máu.

    - Vô sinh:

    + Gỡ dính quanh vòi trứng.

    + Mở thông tai vòi trong trường hợp ứ dịch vòi trứng.

    + Đốt lạc nội mạc tử cung.

    - Đoạn sản.

    - Bóc nhân xơ tử cung.

    - Nạo hạch chậu.

    Biến chứng:

    - Tử vong 1– 5/ 10.000: do thuyên tắc khi hay gây mê.

    - Xuất huyết nội.

    - Tổn thương ruột, bàng quang: do trocart, đốt điện.

    - Viêm phúc mạc toàn thể do tổn thương ruột không được phát hiện sớm.

    - Rối loạn nhịp tim.

    - Tràn khi dưới da.

    DOWNLOAD - TẢI VỀ:
    ** Vui lòng sử dụng MEMBER VIP để tải tài liệu. Ấn vào đây để xem thêm chi tiết.
    .Nội dung ẩn: Nội dung của khối ẩn này chỉ có thể được nhìn thấy bởi các thành viên của (nhóm người dùng: {Administrative, Moderating, VIP 1, VIP 2, VIP 3, VIP 4). **
     

Chia sẻ trang này

Đang tải...
iHax Community